DẠY TỐT, HỌC TỐT

LÀM THEO GƯƠNG BÁC

GIAO LƯU BÓNG CHUYỀN 30-4

THẮP SÁNG NIỀM TIN

LỄ KHAI GIẢNG 2012-2013

TRƯỜNG XƯA DẤU YÊU

NGHE NHẠC

TIẾP SỨC MÙA THI 2012

LIÊN KẾT WEBSITE

Hỗ trợ trực tuyến


Nguyễn Hữu Định 0903000669
Tư vấn online qua Yahoo Messenger

TỔNG SỐ LƯỢT TRUY CẬP

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

    CHỢ NỔI CÁI RĂNG

    --------------HÈ VỀ--------------

    Gốc > ĐOÀN THANH NIÊN >

    Gợi ý Viết thư quốc tế UPU lần thứ 42

    GỢI Ý GIÚP CÁC EM LÀM BÀI THI

                Nước là một phần của sự sống, việc bảo vệ, duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên trọng yếu này chưa phải ai cũng có những nhận thức đúng và hành động đúng. Hưởng ứng thập niên hành động “nước đối với cuộc sống 2005-2015” của Liên hợp quốc, năm nay Liên minh Bưu chính Thế giới phát động cuộc thi viết thư quốc tế UPU với chủ đề về nước.

              Thông qua việc viết một bức thư cho một người nào đó, các em học sinh sẽ được đưa ra tiếng nói của chính  mình về việc nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Đây chính là một trong những mục tiêu của cuộc thi là nhằm phát triển khả năng tư duy, kỹ năng trình bày và giải quyết vấn đề của lứa  tuổi học sinh.

                Với hình thức trình bày dưới dạng một lá thư viết tay, bài dự thi của các em được kỳ vọng tiếp tục lưu giữ  một thói quen văn hóa tốt đẹp. Lá  thư viết tay sẽ để lại nhiều cảm xúc hơn và nhiều kỷ niệm cho cả người gửi và người nhận.

              Nhằm giúp các em hiểu rõ ý nghĩa và có thêm kiến thức để làm tốt bài thi tham dự cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 42, Ban Tổ chức có một số gợi ý như sau:

              ĐÔI NÉT VỀ GIÁ TRỊ NƯỚC:

              1). Nước là gì?

              Là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, ở đâu có nước là có sự sống. Giống như không khí, nước thì tối cần thiết cho đời sống, không có nước, ta không thể sống sót trong vài ngày được. Con người, cây cối và thú vật đều cần nước để tồn tại. Trên 70% bề mặt của trái đất là nước. Khoảng 97% lượng nước trên trái đất là ở các đại dương.

              Nước là một hợp chất gồm hydro và oxy. Tính theo thể tích, nó có hai phần hydro và một phần oxy. Nước tinh khiết thì không màu, không mùi và không vị. Chúng ta lấy nước từ sông, hồ, suối, giếng, biển cả, v.v... Nước tồn tại trong ba trạng thái :rắn, lỏng và hơi. Ta thường thấy nước ở trạng thái lỏng nhưng kh đông lạnh tới 0 độ C, nó biến thành nước đá và khi được đun sôi tới 100 độ C nó biến thành hơi nước.

              Nước được lấy từ thiên nhiên thì không tinh khiết vì nó có chứa nhiều loại muối và chất khoáng hoà tan trong đó. Bởi vì các đặc tính không tinh khiết này nên nước có vị. Nước có nhiều muối khoáng sẽ không tạo bọt khi ta dùng nó với xà bông. Ta gọi đó là độ cứng của nước. Độ cứng của nước gồm có hai loại : tạm thời và lâu dài. Độ cứng tạm thời là nước có bicacbonat canxi và bicacbonat manhê. Khi đun sôi nước thì hai chất này bị khử đi.

              Độ cứng vĩnh viễn là nước có florua, sunphát canxi và manhê. Để làm mất độ cứng của nước, ta phải hoà sodium cacbônát vào trong nước. Chẳng hạn, nước đá thì nhẹ hơn nước. Đó là lý do tại sao nước đá và các tảng băng lại nổi trên mặt nước. Nước có độ đông đặc cao nhất ở 4 độ C . Vì tính chất này nên vào mùa đông nước ở bề mặt các ao hồ đông lại, còn những lớp nước ở bên dưới thì không đông. Nước được gọi là một dung môi phổ biến. Nước biển mặn bởi vì có nhiều chất khoáng hoà tan trong đó. Không khí tự nó hoà tan trong nước, nên các động vật sống ở dưới nước có thể thở được.

              Nước là một chất lỏng không dễ bị bay hơi. Đó là lý do tại sao đất giữ được độ ẩm trong thời gian dài do đó cây cối mới có thể sống được.

    Hàm lượng nước trong các sinh vật thì khác nhau. Cây cối có từ 60% đến 80% hàm lượng nước. Trái cây tươi có từ 85% đến 95% và các loại cây sống ở dưới nước có 98% , cơ thể con người có 65%.

    Nước thường có các vi khuẩn gây bệnh như : thương hàn, dịch tả, kiết lỵ, tiêu chảy, v.v... Do đó ta nên uống nước được đun sôi.

              2). Nước đối với đời sống của con người:

    Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước.

    Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít). Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước.

    Uống không đủ nước ảnh hưởng đến chức năng của tế bào cũng như chức năng các hệ thống trong cơ thể. Uống không đủ nước sẽ làm suy giảm chức năng thận, thận không đảm đương được nhiệm vụ của mình, kết quả là trong cơ thể tích lũy nhiều chất độc hại. Những người thường xuyên uống không đủ nước da thường khô, tóc dễ gãy, xuất hiện cảm giác mệt mỏi, đau đầu, có thể xuất hiện táo bón, hình thành sỏi ở thận và túi mật.

    Tuy nhiên một số người lại lầm tưởng về tác dụng của việc uống nhiều nước, họ cho rằng uống càng nhiều nước thì sẽ tăng cường thải các chất độc hại ra khỏi cơ thể, và họ đã uống quá nhiều nước (4-5 lít/ngày). Thực ra khi uống nhiều nước sẽ gây quá tải cho thận, kèm theo với thải các sản phẩm chuyển hóa, các chất độc hại, cơ thể còn thải các dưỡng chất và các nguyên tố vi lượng. Những người bị tăng huyết áp uống nhiều nước rất nguy hiểm.

    Trong điều kiện bình thường, trong một ngày cơ thể cần khoảng 40ml nước/kg cân nặng, trung bình 2-2,5 lít nước/ngày. Ví dụ một người nặng 60kg thì nhu cầu nước trong ngày khoảng 2,5 lít, trong đó gồm khoảng 1 lít được đưa vào cơ thể dưới các dạng nước uống như chè, cà phê, nước sinh tố…; 0,4-0,5 lít dưới dạng nước canh súp và nước trong rau xanh, trái cây; 0,6-0,7 lít trong thức ăn được chế biến như cơm, bánh mỳ, thịt, cá…; còn khoảng 0,3-0,4 lít là sản phẩm cuối cùng của các phản ứng hóa học trong cơ thể.

    Nhu cầu về nước trong những ngày nóng bức, những ngày mùa đông mà có độ ẩm thấp, trong khi lao động thể lực hay tập luyện thể dục thể thao, trong tình trạng bị sốt, phụ nữ đang cho con bú tăng đáng kể so với bình thường, còn trong ngày trời lạnh nói chung sẽ phải hơi giảm.

    Khi lao động, tập luyện thể lực căng thẳng trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, cơ thể có thể mất nước theo đường mồ hôi tới 30g/kg cân nặng/giờ (người cân nặng 60kg có thể ra 1,8lít mồ hôi/giờ), do đó người ta khuyến cáo, trước khi lao động hay tập luyện thể dục thể thao cơ thể phải ở trạng thái cân bằng nước. Để đạt được điều này thì trong vòng 2 giờ trước khi vận động, uống 400-600ml nước và trong khi lao động phải tiến hành bổ sung nước sớm cho cơ thể mà không chờ có cảm giác khát. Sau mỗi 15-20 phút uống khoảng 150-200ml nước, uống nước có nhiệt độ khoảng 15-20oC sẽ tăng nhanh khả năng tiêu tháo nước qua dạ dày vào ruột và thấm vào máu.

    Vào mùa nóng thì nên uống nước mát, còn vào mùa lạnh thì uống nước ấm. Khuyến cáo không uống nước đá hay nước quá nóng trên 45oC để tránh ảnh hưởng đến lớp men răng và lớp niêm mạc vòm miệng, thực quản, dạ dày.  

    Nước đá đông lạnh không có tác dụng khử trùng. Trước khi sản xuất nước đá, các nhà máy thường phải xử lý nước trước. Hiện nay nhiều đơn vị sản xuất cá thể thường làm nước đá từ nước máy, nước giếng mà không qua bất kỳ quá trình xử lý nước nào cả. Do đó, nước đá của những đơn vị này có chứa rất nhiều vi khuẩn, có thể gây hại cho sức khỏe.

     Ngoài ra các loại nước uống đóng chai, và nước giải khát cũng không hẳn đã đảm bảo chất lượng nước vì nhiều đơn vị sản xuất xử l ý nước không tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nước họ bán còn rất nhiều nguồn bệnh chứa trong đó. Do đó người tiêu dùng nên cẩn thận trước những lời chào hàng của các đơn vị cá thể đang tồn tại rất nhiều trên thị trường.

    Uống nước lạnh  rất nguy hiểm đối với các bệnh nhân bị thấp khớp, bệnh gút, bệnh về bàng quang, viêm họng mạn, có thể gây tái phát các bệnh này.

    Khi uống nước nên uống từ từ, từng ngụm nhỏ, mỗi lần không nên quá 150-200ml. Trước bữa ăn khoảng 15-40 phút nên uống một ít nước, vì sau khi uống 10-15 phút, nước đã được tống khỏi dạ dày vào ruột non và thấm vào máu. Sau những bữa ăn bình thường không uống nước ngay mà để sau khoảng 30-40 phút, vì uống nhiều nước ngay sau bữa ăn sẽ pha loãng hoặc giảm hoạt tính của các men tiêu hóa thức ăn (trừ những bữa ăn có chất nhiều kích thích, ăn thức ăn khô, thức ăn nhiều mỡ).

    Tóm lại, nước rất cần cho cơ thể, mỗi người phải tập cho mình một thói quen uống nước để cơ thể không bị thiếu nước. Có thể nhận biết cơ thể bị thiếu nước qua cảm giác khát hoặc màu của nước tiểu, nước tiểu có màu vàng đậm chứng tỏ cơ thể đang bị thiếu nước. Vào mùa hè nóng bức, mỗi người luôn có chai nước bên mình để thỉnh thoảng uống vài ngụm nhỏ. Duy trì cho cơ thể luôn ở trạng thái cân bằng nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sức khỏe của mỗi người.

              3). Vai trò của nước trong cơ thể chúng ta:

              Thực vậy, khoảng 60-70% sức nặng của cơ thể là nước, phân phối ở khắp nơi như máu,  bắp thtị, não bộ, phổi, xương khớp…  Con người có thể chịu đói trong vài tháng, nhưng thiếu nước trong dăm ba ngày là đã có nhiều nguy cơ tử vong. Ngoài ra, mỗi ngày cơ thể mất đi khoảng 1,5 lit nước qua đại tiểu tiện, đổ mồ hôi, hơi thở. Làm việc, vận động cơ thể sẽ mất thêm nước.

              Vì vậy, để giữ lượng nước của cơ thể bình thường, cần phải uống nước để thay thế phần mất đi.

              Nước có nhiều vai trò rất quan trọng trong việc:

              - Duy trì nhiệt độ trung bình của cơ thể, như nước trong bộ tản nhiệt (radiator) xe hơi, tầu bay;

              - Chuyên chở chất dinh dưỡng và oxy nuôi tất cả tế bào;

              - Giúp chuyển hóa thực phẩm ra năng lượng cần thiết cho các chức năng cơ thể;

              - Giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng;

              - Loại bỏ các chất thải của cơ thể qua hệ tiết niệu, da, ruột, hơi thở;

              - Bao che các cơ quan sinh tử trong cơ thể, tránh tổn thương do sự cọ xát, va chạm;

              - Bảo vệ các khớp xương, tránh viêm sưng, đau nhức vì nước là chất nhờn làm cho khớp cử động trơn tru;

              - Làm ẩm không khí để sự hô hấp dễ dàng, tránh dị ứng, ho khan;

              - Phòng chống sự đóng cục máu ở các động mạch của tim, não, giảm nguy cơ tai biến tim và não;

              - Cần thiết cho sự sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh, các hormone cần thiết cho các chức năng và các phản ứng sinh hóa của cơ thể; và là thành phần cấu tạo của các bộ phận quan trọng: não chứa 85% nước, xương 22%, cơ bắp 75%, máu 92%, dịch bao tử 95%, răng 10%...

              4). Hậu quả của không uống nước đầy đủ

              Khi thiếu nước, cơ thể sẽ làm một cuộc tái phối trí: (1) Đưa nước tới các cơ quan sinh tử như não, tim, phổi, gan và thận và (2) giảm nước tới các cơ quan ít quan trọng hơn như da, tiêu hóa, khớp. Do đó dấu hiệu thiếu nước xuất hiện sớm nhất ở các cơ quan hạng hai này.

              4.1. Thiếu nước vừa phải đưa tới: mệt mỏi, buồn ngủ, không có nước mắt khi khóc; táo bón vì không đủ nước để làm mềm chất phế thải tiêu hóa thực phẩm; ít tiểu tiện; khô và ngứa da vì các tế bào da không có nước, tróc rụng; nổi mụn trứng cá; chẩy máu mũi vì niêm mạc khô, mạch máu dễ hư hao; tái phát nhiễm trùng tiết niệu vì không có nước để loại chất hóa học có hại và vi khuẩn ra ngoài cơ thể qua sự tiểu tiện; sạn thận cũng dễ tái sinh; ho khan, viêm phế quản vì không khí qua mũi không được làm ẩm, kích thích và khiến cho phổi nhậy cảm với bụi bặm, khói thuốc, các hóa chất; chẩy nước mũi vì mũi dễ bị dị ứng; và nhức đầu, chóng mặt, cơ bắp yếu mềm.

              4.2. Thiếu trầm trọng đưa tới: giảm huyết áp, tim đập nhanh; miệng, da, niêm mạc khô, không đổ mồ hôi; mắt sưng, rất khát nước, tiểu tiện ít, mất định hướng…

              Nhiều người dùng tiêu chuẩn “khát” để uống nước. Thực ra, khát không phải là dấu hiệu toàn hảo để báo hiệu nhu cầu uống nước. Ở người cao tuổi hoặc trong vài bệnh, cảm giác khát giảm. Vì thế, cần uống nước đều đều dù ta có khát hay không.

              Có thể quan sát mầu của nước tiểu để biết thiếu nước. Nếu nước tiểu trong sáng là có đủ nước; vẩn đục mầu vàng là dấu hiệu của thiếu nước.

              5). Nhu cầu nước

              Nhu cầu nước của mỗi người thay đổi tùy theo tuổi tác, nhiệt độ cơ thể, cân nặng, mức độ vận động, làm việc, thời tiết... Nhiều ý kiến cho rằng một người trưởng thành mỗi ngày cần khoảng 2 lít nước. Trong khi đó, một số khoa học gia lại cho là mỗi ngày chỉ cần uống 1 lít là được rồi. Có thể tính số nước nên uống mỗi ngày bằng cách chia sức nặng cơ thể theo kilogram cho 30. Thí dụ một người nặng 70 kí sẽ cần khoảng 2.3 lít nước mỗi ngày. Nếu là lbs thì chia đôi. Nặng 120 lbs cần 60 oz nước/ngày. Nên lưu ý là 80% số chất lỏng này là từ nước và các loại nước uống khác và 20% từ thực phẩm. Cà phê, nước trà, nước ngọt có hơi thường có caffeine là chất lợi tiểu, làm cho sự thiếu nước trở nên trầm trọng hơn.

              Uống vào lúc nào?

              Nhiều người đợi khi nào cảm thấy khát hoặc miệng khô ran rồi mới uống nước thì sợ rằng hơi trễ đấy. Vì cảm giác khát giảm rất nhiều ở người cao tuổi và vì khô miệng là một trong những dấu hiệu cuối cùng của sự ráo nước (dehydration) của cơ thể. Do đó, nên có thói quen uống nước vào những thời điểm nhất định để khỏi quên, khỏi thiếu nước. Thường thường nên uống một ly nước lạnh ngay khi thức dậy để động viên tế bào cơ thể rồi uống trước bữa điểm tâm; lúc 10 giờ sáng; trước khi ăn trưa; lúc 4 giờ chiều; trước khi ăn tối; lúc 9 giờ và trước khi đi ngủ. Khi rất khát, chẳng nên nốc một hơi hết ly nước. Mà nên từ từ uống từng ngụm một để cho nước có thì giờ thấm qua thành ruột vào mạch máu, tưới mát các mô bào và thỏa mãn nhu cầu khát của một cơ thể bị thiếu nước.

              Những trường hợp cần uống thêm nước: không khí khô, như ngồi trong máy bay đường trường, cần uống 8oz nước mỗi giờ; với thời tiết lạnh, cơ thể cần thêm nước và năng lượng để duy trì thân nhiệt ở mức độ 98.6; với thời tiết nóng mà làm việc ngoài trời, cần uống thêm một, hai ly nước; bị cảm cúm, sưng phổi có thể đưa tới khô nước cơ thể, vì vậy nhớ uống thêm vài ly nước; bà mẹ có bầu, cần uống thêm 2-3 ly nước mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu nước cho máu, nước bình ối, tế bào; cho con bú sữa mẹ cũng cần thêm nước để có nhiều sữa; và tiêu chẩy, ói mửa, băng huyết, bệnh tiểu đường…

              6). Nước máy hay nước vô chai ?

              Dù là nước máy hoặc nước đóng chai, nên tìm hiểu nguồn gốc của nước coi xem chúng có bảo đảm an toàn không. Tại Hoa Kỳ, nước máy do Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) kiểm soát, còn nước chai được coi như thực phẩm cho nên đều do Cơ Quan Thực Dược Phẩm kiểm soát.  Các giới chức y tế đều cho là nước máy an toàn và có nhiều ích lợi vì luôn luôn được các cơ quan chính quyền kiểm tra, thử nghiệm mỗi ngày để  coi xem có bị ô nhiễm với hóa chất hoặc vi khuẩn. Nước chai chỉ cần chứng minh tính cách an toàn cho người tiêu thụ là được bán và mỗi năm chỉ cần thử nghiệm một lần. Nhiều loại nước chai dùng nước máy chế biến mà thành, vì họ không cần chứng minh nguồn gốc của nước.

              Mấy mẹo vặt để uống nước đầy đủ: luôn luôn kè kè bên mình một chai nước để khi uống, có sẵn; nếu hay quên và nếu có thể, mang một đồng hồ báo hiệu mỗi đầu giờ để nhắc nhở uống nước; nhỏ vài giọt nước chanh vào chai nước để có thêm chút hương vị thơm thơm, dễ uống; nhiều người thấy uống nước lạnh hấp dẫn hơn. Nếu không thích nước lạnh thì hâm hơi ấm một chút. Nước ấm có hương vị khác và có thể làm dịu cuống họng; có thể ăn một miếng bánh hơi mặn trước khi uống một ly nước. Vị mặn làm miệng khô khô, tăng cảm giác khát, cần nước; có thể ăn đá cục để có nước, nhưng đừng nhai, hư răng; mỗi lần đi qua một vòi nước máy trong sở làm, ghé miệng uống vài ngụm; nếu không thích hương vị của nước, có thể uống với một ống hút. Nước sẽ ít tiếp xúc với lưỡi và chạy thẳng xuống họng; cũng chẳng cần mua loại nước chai quá đắt, nhiều công ty sản xuất nước chai khuếch đại là nước máy không tốt. Lọc nước máy với đồ lọc là quá an toàn. Thường thường, chỉ cần nước chai khi tới các quốc gia đang trên đường phát triển; ăn nhiều rau, trái cây cũng chứa nhiều nước: chuối có 70% nước, táo 80%, cà chua, dưa hấu 90%, rau sà lách 95% nước.

              7). Vài điều cần lưu ý

              7.1. Trong khi uống nước là cần thiết, nhưng nếu uống quá nhu cầu hoặc sự chịu đựng của cơ thể lại là điều không tốt, đôi khi ngộ độc nước.

              7.2. Bệnh nhân tim mạch, cao huyết áp, phù nề bàn chân cần tránh uống quá nhiều nước.

              7.3. Nếu có bệnh thận, nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi uống thêm nước.

              7.4. Không nên uống nhiều nước trong khi ăn. Nước sẽ làm loãng dung dịch acit hydrochloric, dịch vị và enzym trong dạ dày, gây ra chậm tiêu hóa.

              7.5. Đa số nước có thêm khoáng chất đều có acit acetic và acit này hay làm hư răng.

              7.6. Uống nhiều nước có thể khiến cho ta phải thức giấc nửa đêm để đi tiểu, gây gián đoạn giấc ngủ. Có thể tránh bằng cách cắt giảm tiêu thụ nước mấy giờ trước khi đi ngủ và đi tiểu trước khi lên giường.

              Kết luận

              Con cá  sống vì nước vì cần nước để tung tăng vẫy vùng bơi lội, kiếm ăn. Con người không sống trong nước nhưng nước nằm trong người với 70% sức nặng cơ thể. Chỉ vài ngày thiếu nước là đã thấy hậu quả. Không có nước miếng làm sao nhai, nuốt cơm thịt hàng ngày, phát ngôn hàng giờ. Không có nước làm sao có máu lưu thông nuôi dưỡng tế bào và loại bỏ độc chất trong cơ thể. Không có nước lấy gì mà tạo ra hormon nam nữ để có nối dõi tông đường. Lại cón da nhăn, mắt khô, miệng đắng, nhức đầu chóng mặt, bước đi loạng quang, khớp kêu “cót két” khô dầu, sạn thận…

    8). Nước – đảm bảo an ninh lương thực:

    Ngày nước thế giới là sáng kiến tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) tạiRio de Janeironăm 1992. Hội đồng Thường trực Liên hiệp quốc quyết định chọn ngày 22 tháng 3 hàng năm là Ngày Nước thế giới, bắt đầu từ năm 1993 nhằm kêu gọi sự quan tâm của toàn thế giới về các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước. Ngày Nước thế giới năm 2012 có chủ đề “Nước và An ninh lương thực” tập trung vào mối tương quan giữa nước và an ninh lương thực, được điều phối bởi Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), đại diện cho các thành viên và cộng sự của UN – Water.

    Chủ đề "Nước và an ninh lương thực" tiếp tục gửi tới một thông điệp, cần giữ gìn nguồn nước để đảm bảo "vựa lương thực" của nhân loại.

              8.1. Nguy cơ thiếu đất và nước biển dâng

              Nếu mức tăng dân số tiếp tục được kiểm soát ở mức bình quân 1,2% trong giai đoạn 2010-2020 thì dân số Việt Nam năm 2020 sẽ vào khoảng 98,6 triệu người và để đảm bảo an ninh lương thực trong nước chúng ta cần phải duy trì diện tích đất chuyên trồng lúa hai vụ khoảng 3,8 triệu héc-ta với điều kiện được đáp ứng nguồn nước một cách đầy đủ cả về số lượng, chất lượng.

              Việt Nam cũng được xác định là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu, trong đó tài nguyên nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất sẽ kéo đến việc ảnh hưởng nặng nề đến ngành nông nghiệp. Biến đổi khí hậu làm suy giảm năng suất cây trồng trong khi nước biển dâng và xâm nhập mặn khiến diện tích đất trồng trọt bị thu hẹp. Dự báo đến năm 2100, khoảng 20-30% diện tích đất nông nghiệp của nước ta sẽ bị ngập do nước biển dâng, kéo theo sự sụt giảm tương đương 10 triệu tấn tổng sản lượng lương thực quốc gia, tập trung ở hai khu vực sản xuất nông nghiệp chính là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.

              Nền nông nghiệp của Việt Nam giảm sút chẳng những ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia mà còn ảnh hưởng đến "nồi cơm" thế giới, bởi Việt Nam đang nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu gạo trên toàn cầu.

              Trong khi đó, nguồn nước, yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp của nước ta lại không dồi dào, ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Đó là sự phụ thuộc vào các nguồn nước quốc tế; phân bố nguồn nước không đồng đều giữa các vùng và các mùa trong năm; gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội; suy thoái tài nguyên nước.

              8.2. Chiến lược liên ngành

              Ông Châu Trần Vĩnh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước khẳng định: Không có nước thì không có nông nghiệp. Trong các ngành kinh tế, nông nghiệp là đối tượng sử dụng nhiều nước nhất, chiếm tới 70% nhu cầu nước.

              Để đáp ứng nhu cầu nước rất lớn này trong bối cảnh tài nguyên nước của quốc gia hiện nay, theo ông Châu Trần Vĩnh, Việt Nam cần có những giải pháp chiến lược mang tính tổng thể và không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngành nước và nông nghiệp mà mang tính liên ngành - đất đai, công nghiệp, năng lượng, môi trường, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, thông tin - truyền thông…

              Điều quan trọng là cần có những chính sách và công cụ pháp lý hữu hiệu về quy hoạch và phân bổ nguồn nước; tăng cường cơ sở hạ tầng tài nguyên nước; tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý các cấp; áp dụng những thực tiễn, cách tiếp cận và thành tựu khoa học công nghệ mới trong quản lý tài nguyên nước và vận hành công trình; nâng cao nhận thức, năng lực và thúc đẩy sự tham gia của các chủ thể và bên liên quan, đặc biệt là khối tư nhân và cộng đồng trong quản lý tài nguyên nước.

              Đồng thời cần có các biện pháp đa dạng hóa nguồn nước phục vụ nông nghiệp như sử dụng hoặc tái sử dụng có kiểm soát nước thải đã qua xử lý, nước lợ… đặc biệt ở những vùng khô hạn, thiếu nước hoặc có nguồn nước bị nhiễm mặn. Đồng thời, áp dụng các công nghệ mới để nâng cao năng suất tưới và sản lượng cây trồng với phương châm "đạt năng suất cao hơn, tưới ít hơn" nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên nước.

              Nhằm nâng cao nhận thức về vai trò và giá trị của tài nguyên nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trong sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực nói riêng, đặc biệt đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự gia tăng việc sử dụng nước ở các nước thượng nguồn, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức phát động các hoạt động hưởng ứng lễ kỷ niệm Ngày Nước thế giới năm 2012 quy mô cấp tỉnh tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    9). Vai trò của nước trong đời sống và sản xuất:

                Vai trò của nước trong đời sống và sản xuất thì vô cùng quan trọng. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta nếu thiếu nước cho nhu cầu ăn uống vệ sinh thì đã là một tai họa rồi phải không các bạn. Trong sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) nước là nhân tố quyết định hàng đầu " nhất nước nhì phân tam cần tứ giống " vì vậy nếu thiếu nước, hoặc nguồn nước bị ô nhiễm thì có khả năng gây ra các thảm họa trầm trọng như nạn đói, bệnh tật ... 

              Trong sản xuất công nghiệp nước cũng đóng vai trò quan trọng như : dùng nước để tẩy rửa nguyên vật liệu, nước tham gia các quá trình trao đổi nhiệt, tham gia các phản ứng chế tạo vật chất mới, v.v..

    Vai trò của nước đối với sản xuất và đời sống là vô cùng quan trọng nhưng hiện nay vấn đề đặt ra với chúng ta là phải bảo vệ nguồn nước nhất là nước ngọt một cách triệt để nhất vì cuộc sống của chúng ta và tưong lai con cháu chúng ta sau này
              Vấn đề nổi cộm hiện nay là kiểm soát những hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và sử lý một cách triệt để hơn, điển hình vụ VEDAN vừa qua và những khu công nghiệp xả chất thải xuống các kênh rạch trên cả nước hiện nay. và tương lai là việc khai thác hàng ngàn hecta đất trên vùng cao nguyên Đắc nông Lâm đồng để lấy quặng nhôm nếu không kiểm soát được sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn nước của sông Đồng nai,…

     

    10). Nước ảo, dấu chân nước và những thách thức đối với tài nguyên nước ở Việt Nam:

    Theo Tổ chức Liên hợp quốc về Tài nguyên nước (UN Water), lượng nước ảo của một sản phẩm là khối lượng nước được dùng để sản xuất ra sản phẩm, được đo đạc tại nơi sản xuất thực tế. Lượng nước ảo cũng có thể định nghĩa là khối lượng nước cần thiết đối với sản phẩm tại vị trí nơi sản phẩm đó tiêu thụ nước. Tính từ "ảo" muốn chỉ thực tế là hầu hết nước dùng để sản xuất ra sản phẩm, nó không chứa trong sản phẩm.

    Dấu chân nước được định nghĩa là tổng lượng nước dùng trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ bởi một cá nhân, cộng đồng hay được tạo ra bởi một doanh nghiệp. Dấu chân nước của một quốc gia là tổng lượng nước dùng trong sản xuất tất cả các hàng hóa và dịch vụ được cư dân của quốc gia đó tiêu thụ.

    Có thể nhận biết sự khác biệt giữa khái niệm nước ảo và dấu chân nước qua đơn vị tính của chúng. Trong khi đơn vị tính của nước ảo là m nước/tấn sản phẩm thì đơn vị tính của dấu chân nước là m3 nước/đầu người/năm hay m3 nước/năm. Lấy ví dụ: Làng A có 1.000 ha lúa nước, canh tác 2 vụ lúa/năm, năng suất lúa cả năm là 8 tấn/ha, nhu cầu dùng nước của lúa nước là 10.000 m3/ha/năm. Như vậy, lượng nước ảo sản xuất lúa của làng A sẽ là 10.000 m3/ha: 8 tấn/ha = I .250 m3/tấn. Dấu chân nước của sản xuất lúa tại làng A là 10.000 m3/ha X 1.000 ha = 10.000.000 m3 nước.

    Khái niệm về nước ảo và dấu chân nước được sử dụng để mô tả các mối quan hệ trong quản lý tài nguyên nước (TNN), ngoại thương và các vấn đề chính trị, chính sách và sử dụng tài nguyên nước khi nó gắn với việc tiêu thụ nước của con người. Chúng được dùng để minh họa cho ảnh hưởng thực tế của hoạt động kinh tế đến nước.

    Lượng nước ảo của các thức ăn dao động mạnh tùy theo sản phẩm và tùy theo quốc gia hay vùng. Trong số các nông sản, lúa cần nhiều nước nhất: đến 2.291m3 cho một tấn so với 1.334 m3 cho lúa mì. Chăn nuôi cũng cần rất nhiều nước để cho gia súc ăn, uống và để chăm sóc chúng. Chẳng hạn, trong 3 năm nuôi một con bò cho được 200 kg thịt, nó đã ăn đến I.300 kg ngũ cốc (lúa mì, bắp, đậu nành, lúa mạch...) và 7*200 kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến 3 triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.000 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò. Tóm lại, để có I kg thịt bò, phải cần đến 15.340 lít nước. Đối với các sản phẩm công nghiệp cũng thế. Trên thế giới, bình quân cần đến 80 lít nước cho mỗi USD sản phẩm. Nhưng ở Mỹ phải cần đến 100 lít, so với khoảng 50 lít ở Đức và Hà Lan, 20 hay 25 lít ở Trung Quốc và Ấn Độ.

     Xét theo quan điểm khai thác sử dụng nước trên phạm vi toàn cầu, các quốc gia khan hiếm nước có thể nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ cần nhiều nước, và các nước có tài nguyên nước phong phú có thể tận dụng lợi thế của mình thông qua việc xuất khẩu các hàng hóa hay dịch vụ này. Trong khi việc buôn bán mang lại lợi ích to lớn này đã được thực hiện trên nhiều vùng trên thế giới, nhưng nhiều nước lại không khuyến khích hoặc không có lợi từ loại hình thương mại đó.

    Các sản phẩm cần nhiều nước để sản xuất ra đang được giao dịch qua một khoảng cách rất lớn giữ các quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dưới dạng nước ảo như hàng hóa nông nghiệp và công nghiệp. Khối lượng toàn cầu của các dòng nước ảo trong các mặt hàng I 1.625 tỷ m3/một năm, chiếm khoảng 40% tổng lượng nước tiêu thụ. Khoảng 80% những dòng nước ảo liên quan đến thương mại sản phẩm nông nghiệp và phần còn lại liên quan đến các sản phẩm công nghiệp.

    Xét trên phạm vi toàn cầu, có thể tiết kiệm nếu sản phẩm mua bán từ những nước có hiệu suất sử dụng nước cao cho các nước có hiệu suất sử dụng nước thấp. Ví dụ: Mêhicô nhập khẩu lúa mì, ngô và lúa từ Hoa Kỳ, nước này chỉ cần 7, I tỷ m3 nước cho một năm để sản xuất ra lượng nông sản xuất khẩu này, nhưng nếu Mêhicô sản xuất thì phải cần tới 15 tỷ m3 nước trong một năm. Từ góc độ toàn cầu đối với thương mại ngũ cốc này sẽ tiết kiệm được 8,5 tỷ m3 nước/năm. Mặc dù có một số nước có hiệu suất sử dụng nước thấp xuất khẩu sản phẩm sang các nước có hiệu suất sử dụng nước cao nhưng lượng nước tiết kiệm toàn cầu thông qua thương mại quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp đã được ước tính khoảng 350 tỷ m3 nước/năm, tương đương với 6% khối lượng nước toàn cầu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Nhiều quốc gia, bao gồm Nhật Bẩn, Mêhicô và hầu hết các nước ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi có nước nhập khẩu dòng ảo. Như thế, an ninh tài nguyên nước của nhiều nước phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên nước của các nước khác.

    Theo nhận định của Viện quốc tế nghiên cứu về các chính sách lương thực (IFPRI), các nước đang phát triển sẽ phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nông sản, từ con số 107 triệu tấn nhập khẩu năm 1995 lên 245 triệu tấn năm 2025. Sự gia tăng này (lên tới 138 triệu tấn) tương đương với mức tiết kiệm 147 km3 nước trong những điều kiện về năng suất đã dự kiến, tức 8% tổng lượng nước tiêu thụ và 12% mức tiêu thụ nước để tưới cho đất tại các nước đang phát triển năm 2025. Sự tiết kiệm nước và đất từ việc gia tăng nhập khẩu, như vậy tại các nước đang phát triển đặc biệt có lợi nếu việc nhập khẩu này bắt nguồn từ sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ có thể thu được số ngoại tệ cần thiết để thanh toán số hàng nhập khẩu. Ngược lại, khi sản phẩm lương thực được nhập khẩu với số lượng lớn bởi vì sự phát triển và kinh tế không đáp ứng nổi nhu cầu về các mặt hàng cơ ban thì những vấn đề nghiêm trọng về an ninh lương thực sẽ xuất hiện. Một số nước lúc đó có nguy cơ không thể đài thọ nổi theo cách thường xuyên các nhu cầu nhập khẩu cần thiết.

    Lấy một phép tính đơn giản minh họa sự ảnh hưởng của việc thay đổi thói quen ăn uống đến nguồn tài nguyên nước. Người ta ước tính rằng, người Trung Quốc đã ăn 20 kg thịt trong năm 1985 nhưng ăn hơn 50 kg trong năm 2009. Điều này làm cho nhu cầu ngày càng tăng đối với thức ăn chăn nuôi. Gia sử có I kg hạt ngũ cốc cần I.000 lít nước để sản xuất, do sự thay đổi chế độ ăn cho của 1,3 tỷ người dân Trung Quốc, dấu chân nước của Trung Quốc ước tính gia tăng vào khoảng 390 km3 nước. Tình hình này cũng tương tự xảy ra ở các nước khác có nền kinh tế đang phát triển. Đối với những nước rất nghèo, thậm chí ăn hai bữa một ngày dấu chân nước của các nước nừy cũng gia tăng một cách đáng kể.

    Khái niệm về một dấu chân nước giúp chỉ ra mức độ và nơi sử dụng nước liên quan đến loại hình tiêu dùng... Mỹ có dấu chân nước 2.480 m3 /người/ năm, Trung Quốc có dấu chân là 700 m 7người/năm. Dấu chân nước trung bình toàn cầu là I.240 m3/người/năm.

    Xét về TNN, ViệtNamphụ thuộc rất nhiều vào các con sông quốc tế. Tổng lượng nước mặt trung bình năm của việt Nam là khoảng 830 tỷ m và hơn 60% lượng nước này phát sinh từ bên ngoài lãnh thổ. 6 lưu vực phụ thuộc vào dòng chảy từ các nước khác là sông Cửu Long, có gần 95% tổng lượng nước đến trung bình năm là từ các nước thượng lưu sông Mê Công; sông Hồng - Thái Bình có gần 40% lượng nước mặt đến từ phần lưu vực nằm trong tanh thổ Trung Quốc; Lưu vực sông (LVS) Mã và Cả có gần 30% và 22% tương ứng, lượng nước đến từ Lào; LVS Đồng Nai có gần 17% lượng nước đến từ Campuchia. Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng cũng chảy từ Trung Quốc vào ViệtNamvà sau đó lại chảy về Trung Quốc. Dòng chảy mặt trên LVS Sê San và Srê Pốk trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 75% và 50% tổng lượng nước toàn lưu vực. Gần 57% tổng lượng nước của Việt Nam là của LVS Cửu Long, hơn 16% trên sông Hồng -Thái Bình và hơn 4% trên LVS Đồng Nai.

    Có thể sử dụng hai chỉ số chính để phản ánh thực trạng về lượng nước hiện có và áp lực lên nguồn nước của LVS Việt Nam. Chỉ số thứ nhất là lượng nước tính trên đầu người. Tổng lượng nước mặt của Việt Namtính trên đầu người là 9.856 m3/năm, nhưng tỉ lệ này khác nhau nhiều giữa các lưu vực. Theo tiêu chuẩn quốc tế tổng lượng nước trên đầu người khoảng I.700 m3/năm được xem là đáp ứng đủ nhu cầu, với lượng nước bình quân đầu người từ 1.700 m3/năm đến 4.000 m3/năm được xem là thiếu nước không thường xuyên hoặc thiếu nước cục bộ. Với dân số và mức độ phát triển hiện tại, theo tiêu chuẩn này, LVS Đồng Nai và các LVS Đông Nam bộ đều đang đối mặt với nguy cơ thiếu nước không thường xuyên và cục bộ, trong khi các sông Hồng, Mã và sông Côn đang tiệm cận mức độ thiếu nước này.

    Chỉ số thứ 2 là đánh giá về phần trăm lượng nước bị khai thác so tổng lượng nước trung bình năm của một LVS. Tiêu chuẩn quốc tế về "căng thẳng do khai thác nguồn nước" đề ra, mức độ căng thẳng trung bình bắt đầu với ngưỡng khai thác là 20%, và mức căng thẳng cao là trên 40%. Với mức độ sử dụng hiện tại, các LVS Mã, Hương ở trong tình trạng căng thẳng trung bình về nguồn nước (giữa 20% và 40%), và sông Đồng Nai cũng đang ở giới hạn này. Tất cả các sông khác đều đang có mức căng thẳng thấp. Tuy nhiên, vào mùa khô, 6 trong số 16 lưu vực được xếp loại là "căng thẳng trung bình" và 4 lưu vực khác được xếp loại "căng thẳng mức độ cao" (sông Mã, Hương và Đồng Nai). Mức độ căng thẳng cao nhất chính là các LVS thuộc Đông Nam bộ, với hơn 75% lượng nước mùa khô bị khai thác, và sông Mã với gần 80%. Các tỉ lệ trên cho thấy các hoạt động khai thác nước quá mức đã và sẽ tạo nên mức độ rất không bền vững cho các lưu vực.

    Trên phạm vi cả nước, gần 82% tổng lượng khai thác nước mặt hiện tại là dùng cho tưới, 11% cho thủy sản, 5% cho công nghiệp và 3% cho đô thị. Trong đó có 3 lưu vực, lượng nước tưới chiếm hơn 90% lượng nước sử dụng. Lưu ý là thủy điện không được tính là đối tượng sử dụng nước vì thủy điện nhìn chung không "tiêu hao" nguồn nước, mặc dù nó có thể làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy và đôi khi còn chuyển nước từ sông này sang sông khác. Hiện tại, lượng nước đang được sử dụng hàng năm cho tất cả các mục đích khoảng 80,6 tỷ m3. Đến năm 2020, tổng lượng nước sử dụng sẽ tăng lên khoảng 120 tỷ m3, tức tăng thêm 48%. Trong đó, nước cho tưới tăng 30%, công nghiệp tăng gần 190%, đô thị 150% và nước cho nuôi trồng thủy sản là 90%. Dự báo nhu cầu nước sẽ tăng đáng kể trên các LVS Trà Khúc, Côn, Ba, các LVS ĐôngNam bộ, Sê San và Srê Pốk.

    Dân số gia tăng đi cùng với sự gia tăng sử dụng nước sẽ làm thay đổi lượng nước hiện tại và làm thay đổi mức "căng thẳng" ở các LVS. Dự báo dân số tới năm 2020 cho thấy, LVS Đồng Nai sẽ tiến gần tới mức thiếu nước nghiêm trọng nếu xét về tổng lượng nước hàng năm. Các LVS ĐôngNambộ, Hồng, Mã và Côn sẽ ở ngang hoác dưới mức thiếu nước. Các lưu vực còn lại sẽ có đủ nước cho nhu cầu cộng đồng trên cơ sở lượng nước trung bình năm. Tính cả dự báo sử dụng nước trong tương lai vào mùa khô tới năm 2020 trong chỉ số khai thác nguồn nước cho thấy lưu vực Đông Nam bộ trên ngưỡng 100%. Điều này có nghĩa là sử dụng nước dự báo sẽ vượt xa tổng lượng nước sẵn có trên lưu vực trong mùa khô. LVS Mã sẽ ở mức 100% và sông Côn đang tiến đến mức này. Các sông Hồng, Ba, Đồng Nai, Hương và Trà Khúc sẽ nằm trong khu vực chịu căng thẳng cao về nước. Các lưu vực khác sẽ nằm trong khu vực căng thẳng trung bình về nước, trong khi chỉ có LVS Sê San và Thạch Hãn sẽ không chịu áp lực về nước, mặc dù các lưu vực này cũng có thể sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước cục bộ.

    Biến đổi khí hậu được xem là yếu tố làm thay đổi dòng chảy mặt hiện tại và chế độ mưa. Mô phỏng mô hình khí hậu Bộ TN&MT đang sử dụng cho thấy lượng mưa trung bình hàng năm sẽ tăng khoảng 5%, trong đó lượng mưa sẽ tăng nhiều ở miền Bắc hơn so với miền Nam. Hầu hết các mô hình cho thấy, trung bình lượng mưa tăng cao hơn lượng bốc hơi do nhiệt độ tăng, kết quả người ta dự đoán lượng dòng chảy trung bình sẽ tăng, khoảng 50 mm/năm (xấp xỉ lượng tăng 5%). Hầu hết lượng mưa tăng trung bình hàng năm được dự đoán sẽ diễn ra vào các tháng mùa mưa, chỉ có lượng nhỏ mưa tăng thêm trong mùa khô.

    Việt Namlà một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu lúa và là một trong những nước có lượng xuất khẩu chè, cà phê, hạt điều... lớn. Ước tính trong năm 2008, lượng nước ảo của lúa vào khoảng 1.400 m3/tấn và dấu chân nước sản xuất lúa vào khoảng 50 tỷ m3 (diện tích canh tác lúa vụ Đông Xuân là 3 triệu ha, diện tích canh tác vụ hè thu là 2 triệu ha, nhu cầu dùng nước của lúa nước trong hai vụ khoảng 10.000 m3/ha). Dấu chân nước của sản xuất lúa chiếm khoảng 6% tổng lượng dòng chảy mặt. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tất cả các hồ chứa của ViệtNam mới chỉ trữ được khoảng 5% tổng lượng dòng chảy mặt.

    Là một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, chúng ta đã xuất đi một lượng nước rất lớn mỗi năm. Trong khi chúng ta lại đang phải đối đầu với những thách thức lớn đã nói ở trên. sử dụng khái niệm nước ảo và dấu chân nước, tính toán lượng nước ảo và dấu chân nước trong công tác quy hoạch khai thác sử dụng nước, công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học và thực tế hơn nhằm đạt tới việc khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên nước.

    11). Một số thiên tai liên quan đến nước:

              11.1. Lũ lụt

                Một số trận lụt lớn gồm:

         - Các trận lũ lụt do sông Hoàng Hà tại Trung Quốc xảy ra rất thường xuyên. Trận lụt lớn năm 1931 khiến từ 800,000 tới 4,000,000 người chết.

              - Trận lụt lớn năm 1993 là một trong những trận lụt gây hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

         - Trận lụt sông Dương Tử năm 1998, cũng ở Trung Quốc, khiến 14 triệu người mất nhà cửa.

         - Trận lụt Mozambique năm 2000 gây lụt hầu như toàn bộ đất nước trong ba tuần, khiến hàng nghìn người chết và đất nước bị tàn phá.

              11.2. Sóng thần

              - Sóng thần do trận động đất ngày 26 tháng 12 năm 2004 gây ra tấn công Ao Nang, Thái Lan.

              - Sóng thần có thể do các trận động đất ngầm dưới đáy biển gây ra như cơn sóng thần tại Ao Nang, Thái Lan do Trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004, hay bởi những vụ lở đất như cơn sóng thần tại Vịnh Lituya, Alaska.

              - Ao Nang, Thái Lan (2004). Trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004 tạo ra Sóng thần ngày tặng quà và thảm hoạ tại địa điểm này.

              - Vịnh Lituya,Alaska (1953). Một cơn sóng thần lớn xảy ra ở đây, lớn nhất từng được ghi nhận.

              Sóng thần được liệt vào tiêu chí thảm hoạ do đất di chuyển bởi nó phát sinh với một trận động đất.

    12). Tiết kiệm nước trong sinh hoạt:

              - Sử  dụng các thiết bị vệ sinh tiết kiệm nước: Để ngăn ngừa sự lãng phí nước, một phương pháp khá hiệu quả đó là hãy thay thế các thiết bị vệ sinh cũ, gây lãng phí nước bằng các thiết bị mới tiết kiệm nước. Nếu ta xây nhà mới, việc chọn mua các thiết bị tiết kiệm nước cho ngôi nhà xinh xắn của mình là một quyết định sáng suốt.

              - Kiểm tra và khắc phục rò rỉ: Đây là cách tránh thất thoát nước mà chúng ta cần phải làm gấp vì đường ống dẫn nước có thể bị rò rỉ và gây ra hao phí nước nghiêm trọng. Để kiểm tra, ta đọc số nước trên công tơ trước và sau khoảng thời gian hai giờ không sử dụng nước. Nếu công tơ không cho cùng một số nước, thì hệ thống cấp nước đã bị rò rỉ. Kế đến, ta kiểm tra sự rò rỉ của toilet bằng cách cho một ít bột màu vào ngăn chứa nước xả của bồn cầu. Nếu chưa xả nước, mà màu đã xuất hiện trong bồn cầu trong vòng 30 phút, nghĩa là toilet đã bị rò rỉ. Khi phát hiện có sự rò rỉ ta cần nhờ thợ hoặc sửa chữa ngay lập tức.

              - Tận dụng nước tối đa khi có thể: Khi rửa bát, rửa rau hay cọ rửa đồ vật ... nên hứng sẵn một chậu nước sạch. nước rửa lần cuối có thể dùng lại vào việc khác như cọ rửa hoặc lau nhà. Còn nước bẩn (không có xà phòng) có thể dùng để tưới cây, tưới đất cho ít bụi ... Chỉ rửa trực tiếp dưới vòi nước khi thật cần thiết và điều chỉnh vòi vừa đủ dùng.

              - Không nên sử dụng bồn cầu như gạt tàn hay thùng rác: Mỗi lần xả nước để dội một mẩu thuốc lá thừa, giấy ăn hay mẩu rác nhỏ thì ta đã lãng phí 20 lít nước. Vì thế hãy sử dụng thật hiệu quả mỗi lần nhấn cần gạt nước.

              - Đặt chai nhựa hoặc phao nổi vào ngăn chứa nước xả của bồn cầu: Để giảm lượng nước lãng phí, hãy để một chai nhựa vào ngăn chứa nước xả của bồn cầu, cách xa hệ thống vận hành. Để giữ yên chai, nên để một lớp cát hoặc đá cuội dày khoảng 5cm vào mỗi chai nhựa, đổ nước đầy chai và vặn chặt nút. Ta cũng có thể mua loại phao nổi rẻ tiền và đặt vào ngăn chứa nước xả. Cách này giúp tiết kiệm khoảng 40 lít nước mỗi ngày.

              - Sử dụng vòi nước hiệu quả: Ta nên khoá kỹ các vòi nước khi không dùng. Nếu có sự nhỏ giọt ở các vòi nước khi đã khoá chặt, ta phải nhanh chóng sửa chữa hoặc thay thế ngay vì lượng nước nhỏ giọt sẽ “tích tiểu

              13). Những nội dung mới của luật tài nguyên nước: hướng đến phát triển bền vững

              Các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Tài nguyên nước (TNN): Đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước và các hành vi khác gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước;

         Xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước; xả khí thải độc hại trực tiếp vào nguồn nước; gian lận trong việc xả nước thải; đặt vật cản, xây dựng công trình kiến trúc, trồng cây trái phép gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh, rạch; khai thác trái phép cát, sỏi trên sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; phá hoại công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát TNN, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; thăm dò, khai thác, sử dụng TNN, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất trái phép; xây dựng hồ chứa, đập, công trình khai thác nước trái quy hoạch TNN.

         Luật Tài nguyên nước (TNN) mới được Quốc hội thông qua ngày21-6-2012đã bổ sung nhiều quy định, điều khoản tập trung việc quản lý, bảo vệ và giữ gìn nguồn nước. Luật TNN khẳng định Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về TNN.

         Theo đó, Luật TNN mới quy định cụ thể trách nhiệm quản lý Nhà nước về TNN của Bộ TN-MT, các bộ - ngành liên quan và của chính quyền địa phương các cấp, thậm chí đến cấp xã. Đối tượng quản lý TNN trong Luật TNN được mở rộng đến việc quản lý cả lòng sông, bờ bãi cũng như việc thiết lập các công cụ, biện pháp kinh tế trong quản lý TNN.

         13.1. Tạo động lực phát triển

         Luật TNN năm 1998 sau hơn 12 năm thi hành đã không còn phù hợp với thực tiễn. Luật TNN mới thay thế cho Luật TNN năm 1998 đã khắc phục những bất cập, mở đường cho các hoạt động hướng đến mục tiêu bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững TNN quốc gia, tạo động lực phát triển bền vững ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Cụ thể, Luật TNN mới quy định phải điều tra cơ bản, xây dựng chiến lược và quy hoạch TNN nhằm tăng cường công tác điều tra cơ bản TNN và quản lý TNN theo chiến lược, quy hoạch. Theo đó, Bộ TN-MT tổ chức lập quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Căn cứ quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN đã được phê duyệt, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch điều tra cơ bản TNN của mình. Việc lập quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN phải đáp ứng yêu cầu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch ph


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Thanh Long @ 13:47 14/01/2013
    Số lượt xem: 10345
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến